Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CHUYÊN ĐỀ VĂN
|
TRƯỜNG THCS LÊ LỢI TỔ NGỮ VĂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Tam Kỳ,, ngày tháng năm 2016
CHUYÊN ĐỀ MÔN NGỮ VĂN
(Năm học 2016 - 2017)
“Một số phương pháp hướng dẫn học sinh THCS khắc phục lỗi diễn đạt trong văn bản viết”.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết, hầu hết các em học sinh ở trường THCS Lê Lợi có tinh thần học tập rất tốt môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung.
Đại đa số phụ huynh đều có sự quan tâm, tạo điều kiện cho con em mình học tập tốt. Nhà trường tạo điều kiện tốt về mặt tài liệu, thiết bị, đồ dùng dạy học…cho cả giáo viên và học sinh.
Các thành viên trong tổ Ngữ văn đoàn kết, nhiệt tình góp ý xây dựng chuyên đề.
Mặc dù hầu hết các em học sinh ở trường THCS Lê Lợi có tinh thần học tập rất tốt môn Ngữ văn nói riêng và các môn học khác nói chung tuy nhiên vẫn còn một số lượng rất ít do điều kiện, hoàn cảnh của bản thân (tiếp thu chậm), hoàn cảnh của gia đình ( khó khăn, chưa hoặc không quan tâm đúng mực tới việc học tập của con cái), do đó, các em chưa có ý thức tốt trong việc học tập, tìm tòi kiến thức của bài dạy. Bên cạnh đó, có một số em còn rất hạn chế trong việc sử dụng có hiệu quả vốn từ vựng Tiếng Việt; dè dặt trong việc rèn luyện tư duy. Đây là một khó khăn đáng kể liên quan đến chất lượng bộ môn và việc thực hiện nhiệm vụ dạy học. Cho nên, qua bàn bạc thảo luận, tổ Ngữ văn chúng tôi quyết định chọn đề tài “Một số phương pháp hướng dẫn học sinh THCS khắc phục lỗi diễn đạt trong văn bản viết” nghiên cứu thực hiện trong năm học 2016-2017 này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Thứ nhất tìm hiểu mục đích của việc nghiên cứu đề tài:
Đề tài “Một số phương pháp hướng dẫn học sinh THCS khắc phục lỗi diễn đạt trong văn bản viết” có mục đích giúp học sinh rèn luyện, khắc phục các lỗi về dùng từ , đặt câu và viết đoạn là các nhân tố quan trọng để bài văn của các em được hoàn thiện, sau đó, để các em sử dụng văn phong của mình có hiệu quả trong cuộc sống.
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Một số phương pháp hướng dẫn học sinh THCS khắc phục lỗi diễn đạt trong văn bản viết” chọn đối tượng nghiên cứu là các học sinh đang học Trường THCS Lê Lợi.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tổ bàn bạc thảo luận đã chọn các phương pháp nghiên cứu sau: nghiên cứu thực tiễn, nghiên cứu lý thuyết, phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết, phân tích, chứng minh, giải thích, bình luận, thống kê…
II. Thứ hai nội dung chủ yếu của đề tài:
1. Sơ lược về lỗi diễn đạt
Có thể hiểu lỗi diễn đạt là các lỗi về dùng từ đặt câu và viết đoạn. Lỗi về dùng từ là dùng từ bị sai về nghĩa hoặc sử dụng từ ngữ mà không đúng chức vụ ngữ pháp của từ. Lỗi đặt câu như đặt câu mà chưa đủ các thành phần, câu thiếu chủ ngữ và vị ngữ (không phải các câu đặc biệt và các câu theo kiểu biến đổi)… Lỗi viết đoạn như: viết đoạn văn mà không thống nhất về nội dung, không đảm bảo tính lô - gíc, không sử dụng hoặc sử dụng không đúng các phương tiện liên kết để liên kết giữa các câu trong đoạn.
2. Các lỗi diễn đạt thường gặp
Về các lỗi diễn đạt thường gặp, chúng tôi sẽ dẫn các ví dụ trong các bài làm của các em học sinh ở các lớp trực tiếp giảng dạy trong năm học 2016-2017.
2.1. Lỗi dùng từ
a. Lỗi lặp từ
Lặp từ ở đây không phải phép điệp từ với ý nghĩa nhấn mạnh cũng không tạo ra sự hài hoà cho bài văn, không làm tăng tính biểu cảm mà ngược lại, lặp từ lại làm cho câu văn nặng nề.
Ví dụ:
( Nhân dịp Ngày thương binh - liệt sĩ 27/7, em được bố mẹ chở đi thăm nghĩa trang Trường Sơn. Ở đây, em được gặp một sĩ quan cấp cao và em được trò chuyện với sĩ quan và được sĩ quan dẫn đi tham quan và thắp hương cho các phần mộ.)
Ở ví dụ trên, người viết đã lặp đi, lặp lại quan hệ từ và đến ba lần nhưng không có ý nghĩa nhấn mạnh cũng không tạo ra sự hài hoà về mặt ngữ âm, không làm tăng tính biểu cảm mà ngược lại, lặp từ lại làm cho câu văn trở nên lủng củng. Ta viết lại cho đúng bằng cách bỏ bớt từ lặp lại không cần thiết. Ngoài ra, câu trên cũng quá dài, lại diễn đạt rất nhiều các ý khác nhau nên ta có thể tách các vế của câu ấy thành các câu đơn độc lập.
Sửa lại:
Nhân dịp Ngày thương binh - liệt sĩ 27/7, em được bố mẹ chở đi thăm nghĩa trang Trường Sơn. Ở đây, em gặp một bác sĩ quan cấp cao trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đã nghỉ hưu. Em trò chuyện với bác ấy về các phần mộ ở nghĩa trang này. Em cùng bác đi tham quan và thắp hương cho các phần mộ.
b.Lẫn lộn các từ gần âm
Lẫn lộn các từ gần âm cũng tạo ra lỗi dùng từ. Các em thường dùng lẫn lộn các từ phát âm gần giống nhau nhưng nghĩa lại hoàn toàn khác nhau.
Ví dụ 1:
“bản” với từ “bảng” (“ bảng hợp đồng” ( sai) – “bản hợp đồng” (đúng))
Ví dụ 2:
(Ông em đã giành được quân chương hạng Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.)
Trong câu văn trên, người viết đã lẫn lộn từ quân chương và huân chương vì chúng phát âm gần giống nhau. Trong thực tế chỉ có từ huân chương chứ không có từ quân chương. Và tất nhiên phải thay từ quân chương bằng từ huân chương. Câu đúng trong trường hợp này là:
Ông em đã giành được Huân chương Hạng Nhì trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
c. Hiểu sai nghĩa của từ
Ví dụ 1:
Ở ví dụ trên, ta thấy có sự đối lập về nghĩa giữa hai từ “thơm” và “nồng nặc”. “Nồng nặc” – mùi khó ngửi với nồng độ cao bốc lên mạnh còn thơm – mùi dễ chịu.“Nồng nặc” đóng vai trò làm phụ ngữ bổ nghĩa cho “thơm”, do vậy, nó không thể có nghĩa trái ngược với “thơm” được. Trường hợp này, các em đã nhầm lẫn và hiểu sai nghĩa của từ “nồng nặc”. Và để khắc phục, ta chỉ cần thay “nồng nặc” bằng một từ khác hợp lí đúng với chức năng ngữ pháp của chúng như từ “ngào ngạt”(có mùi thơm lan toả rộng và kích thích mạnh vào khứu giác).
Câu chuẩn sẽ như sau:
Mẹ tôi nấu ăn rất ngon. Sáng sáng, tôi thức dậy đã ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt từ dưới bếp bay lên.
Ví dụ 2:
Tương tự như ở ví dụ 1, ta cũng thấy sự đối lập giữa từ “bạc phơ” với cụm từ “vẫn có rất nhiều những sợi đen bóng”. “Bạc phơ” là chỉ mái tóc bạc mà không còn một sợi đen nào. Người viết đã không hiểu rõ nghĩa của từ “bạc phơ”. Ý người viết là miêu tả mái tóc lấm tấm bạc của bà. Ta có thể sửa lại bằng cách thay từ “ bạc phơ” và bỏ hẳn vế sau.
Như vậy, câu đúng sẽ là:
Mái tóc của bà tôi đã lấm tấm bạc.
Ví dụ 3:
Những lời thơ kiên cường, sắt đá nhưng không kém phần vui tươi của bài thơ
“ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi.
Trong câu văn trên, người viết đã dùng sai từ kiên cường, sắt đá. Kiên cường, sắt đá là những từ ngữ chỉ phẩm chất người không thể dùng để nói về tính chất của lời thơ. Ta sẽ thay các từ ngữ phù hợp với tính chất lời thơ của bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” như xúc tích, giản dị.
Câu chính xác là:
Những lời thơ xúc tích, giản dị nhưng không kém phần vui tươi của bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi.
2.2. Lỗi đặt câu
Các em không chỉ dùng từ sai mà còn viết câu chưa chuẩn. Các lỗi thường gặp khi đặt câu như: Ví dụ :
Nhân dịp được bố mẹ chở đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, được gặp một sĩ quan cấp cao và em được trò chuyện thăm hỏi sĩ quan và được sĩ quan dẫn đi quan sát thấy những người nhà đi viếng mộ những anh hùng liệt sĩ
- a. Câu thiếu chủ ngữ:
Như ta đã biết, chủ ngữ thường trả lời cho những câu hỏi: ai ? con gì? Cái gì? nhưng trong một số trường hợp, chủ ngữ lại không trả lời cho những câu hỏi đó (lưu ý không phải câu rút gọn và câu đặc biệt). Những trường hợp như trên, người viết đã viết câu thiếu thành phần chính chủ ngữ.
Ví dụ:
(Qua truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê cho thấy nhân vật Phương Định rất can đảm.)
Đây là một ví dụ không xác định được chủ ngữ vì (không biết ai cho thấy).
Ta có thể sửa lại để câu có đầy đủ thành phần bằng các cách:
Cách 1: Thêm chủ ngữ vào câu :
Qua truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, em thấy nhân vật Phương Định rất can đảm.
- Cách 2 : Biến chủ ngữ thành một cụm chủ vị :
Qua truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, cho em thấy nhân vật Phương Định rất can đảm.
- Cách 3: Biến trạng ngữ thành chủ ngữ bỏ từ “Qua”
Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, cho thấy nhân vật Phương Định rất can đảm.
b. Câu thiếu vị ngữ:
Vị ngữ thường trả lời cho những câu hỏi : Làm sao ? Như thế nào? Tại sao?.. Tuy vậy, ở một số câu lại chưa có thành phần trả lời cho những câu hỏi như vậy. Đây là những câu thiếu vị ngữ ((lưu ý không phải câu rút gọn và câu đặc biệt).
Ví dụ:
(“Hình ảnh Phương Định phá bom trên cao điểm”.)
Đây mới chỉ là một cụm danh từ mà danh từ trung tâm là “hình ảnh” và phụ ngữ là Phương Định phá bom.
Ta có thể khắc phục lỗi sai bằng các cách sau:
- Cách 1: Thêm vị ngữ cho câu. Câu trên thiếu câu trả lời cho câu hỏi như thế nào, làm sao? .Ta sẽ thêm các câu trả lời cho những câu hỏi ấy.
“Hình ảnh Phương Định phá bom trên cao điểm đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc (em, tôi, chúng ta..)”.
- Cách 2: Biến cụm danh từ đã cho thành một bộ phận cụm chủ -vị:
“Em rất thích hình ảnh Phương Định phá bom trên cao điểm”.
c. Câu thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ
Ví dụ:
( “Mỗi khi đọc lại văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”.)
Đây là một ví dụ chưa thành câu vì thiếu cả chủ ngữ lẫn vị ngữ nhưng không phải câu đặc biệt, không phải trường hợp rút gọn câu, cũng không phải là trạng ngữ được tách thành câu riêng mà cụm từ trên chỉ là thành phần trạng ngữ chỉ thời gian do người viết lẫn lộn với đơn vị câu. Ta có thể thêm chủ ngữ và vị ngữ để thành câu hoàn chỉnh.
“Mỗi khi đọc lại văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”, tôi lại cảm thấy thương cho hoàn cảnh của hai anh em Thành và Thuỷ”.
d. Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần câu
Ví dụ:
( Nga đi vào thấy tôi đọc nhật kí của mình tức lắm giành ngay quyển sách từ tay tôi và hét to sao bạn quá đáng thế, đây là bí mật của tớ mà.)
Ta thấy bộ phận trong câu trên sẽ khiến người đọc hiểu lầm rằng đó là miêu tả trạng thái của “tôi” khi đọc nhật kí của Nga (chủ ngữ) thì “tức lắm”. Nhưng thực ra đó là trạng thái của Nga (chủ ngữ) khi thấy bạn đã đọc những dòng tâm sự riêng tư của mình. Như vậy, câu sai về mặt ngữ nghĩa.
Ta có thể sửa lại câu trên cho chính xác để người đọc khỏi hiểu lầm bằng cách thêm các quan hệ từ và các dấu câu cho thích hợp như sau:
Nga đi vào thấy tôi đọc nhật kí của mình thì tức lắm liền giành ngay quyển sách từ tay tôi và hét to sao bạn quá đáng thế ! Đây là bí mật của tớ mà.
2.3 . Lỗi về sử dụng quan hệ từ
Trong một số tình huống, các em mắc một số lỗi về quan hệ từ. Các lỗi này sẽ làm cho câu văn lủng củng, ý diễn đạt không rõ ràng. Một số lỗi về sử dụng quan hệ từ như:
a. Thiếu quan hệ từ
Ví dụ: Câu: Đừng nên nhìn hình thức đánh giá kẻ khác-
Ngữ văn 7 tập 1
Ở câu thơ trên, người viết đã dùng thiếu quan hệ từ “mà”. Ta chỉ cần thêm quan hệ từ “với” để câu hoàn chỉnh.
Đừng nên nhìn hình thức mà đánh giá kẻ khác.
b. Dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa
Ví dụ:
Nhà em ở xa trường và bao giờ em cũng đến trường đúng giờ. –NV 7, T1.
Câu trên sử dụng quan hệ từ “và” (là quan hệ đồng chức) chưa phù hợp với nghĩa, nên thay quan hệ từ “và” bằng “nhưng”
Nhà em ở xa trường nhưng bao giờ em cũng đến trường đúng giờ
Hay:
(Mặc dù, các chiến sĩ lái những chiếc xe không có kính nên “mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” và các anh vẫn không quản ngại, vẫn“tiếp tục lái trăm cây số nữa”.)
Ví dụ trên là một trường hợp về dùng quan hệ từ không thích hợp về nghĩa bởi lẽ các vế câu có quan hệ tương phản với nhau về mặt ý nghĩa cho nên không thể dùng quan hệ từ “và” nối các vế câu và đặc biệt quan hệ từ mặc dù cũng không thể đi kèm thành cặp với quan hệ từ “và”. Như vậy, ta phải thay từ và bằng từ nhưng hoặc từ tuy vậy để tạo nên sự đối lập giữa các vế câu.
Câu đúng:
Mặc dù, các chiến sĩ lái những chiếc xe không có kính nên “mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời” nhưng các anh vẫn không quản ngại, vẫn“tiếp tục lái trăm cây số nữa”.
c. Thừa quan hệ từ
Ở trường hợp này, câu bị thừa quan hệ từ đặc biệt là thừa những quan hệ từ đứng ở đầu câu đã dẫn đến một hệ quả là câu sai vì câu không có thành phần chủ ngữ.
Ví dụ : Qua câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái
- Ngữ văn 7- Tập 1.
Khi có từ “qua” câu văn trên thiếu chủ ngữ, vì vậy câu trên thừa quan hệ từ “qua”, cách sửa: bỏ quan hệ từ “qua”:
Câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” cho ta thấy công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái
Hay:
(Như mỗi chúng ta đều rất hạnh phúc vì được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của bố mẹ.)
Các câu đã cho thiếu chủ ngữ vì quan hệ từ Như ở đầu câu đã biến chủ ngữ thành một thành phần khác (trạng ngữ). Để những câu văn này được hoàn chỉnh, cần bỏ quan hệ từ Như đi.
Câu đúng:
Mỗi chúng ta đều rất hạnh phúc vì được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của bố mẹ.
d. Dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết:
Trong bài làm của các em, có một số câu dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết. Không có tác dụng liên kết nghĩa là bộ phận kèm theo quan hệ từ đó không liên kết với một bộ phận nào khác.
Ví dụ: - Nam là một học sinh giỏi toàn diện. Không những giỏi về môn Toán, không những giỏi về môn Văn. Thầy giáo rất khen Nam.
Ngữ văn 7- Tập 1.
Câu đúng: Nam là một học sinh giỏi toàn diện. Không những giỏi về môn Toán, mà còn giỏi về môn Văn. Thầy giáo rất khen Nam.
Hay:
(Vì sức khỏe yếu đi nhưng ông vẫn hăng hái trong công tác.)
Như vậy, quan hệ từ Vì ở ví dụ trên không liên kết với các bộ phận khác trong câu. Để câu thực sự có tính liên kết giữa các bộ phận, ta sẽ thay quan hệ từ vì bằng từ tuy hoặc mặc dù.
Câu đúng
Mặc dù sức khỏe yếu đi nhưng ông vẫn hăng hái trong công tác.
2.4. Lỗi lô-gíc
Đó là các lỗi có liên quan đến tư duy (lô-gíc) của người nói và người viết.
Ví dụ 1:
(Phương Định là cô gái xinh đẹp nên rất dũng cảm.)
Trong câu này, nên là môt quan hệ từ nối các vế có mối quan hệ nhân- quả. Giữa Phương Định xinh đẹp với rất dũng cảm không có mối quan hệ đó.
Sửa lại bằng cách thay quan hệ từ nên bằng quan hệ từ và. Hoặc thêm cặp quan hệ từ có tính chất đối lập không những – mà còn tạo thành câu ghép có quan hệ tương phản.
Câu đúng:
- Phương Định là cô gái xinh đẹp và rất dũng cảm.
- Phương Định không những là cô gái xinh đẹp mà cô ấy còn rất dũng cảm.
Ví dụ 2:
(Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Hữu Thỉnh và Sang thu đều viết về mùa thu và đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả).
Đây là mẫu câu có kiểu kết hợp “ A, B và C”(các yếu tố có mối quan hệ đẳng lập với nhau) thì A, B, C phải là những từ ngữ thuộc cùng một trường từ vựng. Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Hữu Thỉnh và Sang thu không cùng trường từ vựng. Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Hữu Thỉnh là tác giả còn Sang thu là tác phẩm. Vì thế, các ý ở câu ở trên đã không quan hệ lô –gic với nhau. Cách sửa như sau: Bỏ từ Sang thu.
Câu đúng:
Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Hữu Thỉnh đều là tác giả của những bài thơ thu làm nức lòng độc giả.
2.5. Lỗi viết đoạn
Một đoạn văn được xây dựng theo đúng quy tắc phải đạt được các yêu cầu như tập chung diễn đạt một nội dung, có câu chủ đề ,có thể trình bày theo một trong các cách diễn dịch, qui nạp hoặc song hành…Tuy vậy, một số em vẫn chưa biết cách trình bày đoạn văn, tức là các em trình bày đoạn văn mà không đảm bảo các yêu cầu trên.
Ví dụ 1:
( Nhân dịp được bố mẹ chở đi thăm nghĩa trang liệt sĩ, được gặp một sĩ quan cấp cao và em được trò chuyện thăm hỏi sĩ quan và được sĩ quan dẫn đi quan sát thấy những người nhà đi viếng mộ những anh hùng liệt sĩ. Khi ấy, em gặp được một người đồng đội của một chiến sĩ nào đó đang đứng trước mộ của đồng đội thắp hương và đọc bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. khi đó, em đã rất ngạc nhiên và rất muốn được nói chuyện với bác ấy và em chạy đến và hỏi chuyện bác.)
Đoạn văn trên mắc rất nhiều lỗi. Câu thứ nhất, em đã không sử dụng từ ngữ xưng hô trong cụm từ “được sĩ quan dẫn đi”, đặc biệt hơn, em còn thiếu cả phụ ngữ cho động từ “đi”. Trong trường hợp này, phải viết“được bác sĩ quan dẫn đi xem”. Em cũng viết thiếu cả quan hệ từ “và” . Câu 2, em lại bị thừa quan hệ từ và ; từ và cũng bị lặp lại ba lần mà không có ý nhấn mạnh. Bên cạnh đó, đoạn văn còn sử dụng dấu câu không hợp lí. Tất cả những lỗi trên đã tạo cho một đoạn văn rời rạc.
Ta khắc phục các lỗi trên bằng cách thêm một số từ ngữ để dẫn dắt tạo sự liên kết, sử dụng các dấu câu cho phù hợp, bỏ bớt các từ ngữ không cần thiết. Sau đây là đoạn văn được sửa lại hoàn chỉnh.
Nhân dịp Ngày thương binh, liệt sĩ 27/7, em được bố mẹ chở đi thăm nghĩa trang Trường Sơn. Ở đây, em gặp một bác sĩ quan cấp cao trong cuộc kháng chiến chống Mĩ đã nghỉ hưu. Em trò chuyện với bác ấy về các phần mộ ở nghĩa trang này. Em cùng bác đi tham quan và thắp hương cho các phần mộ. Từ phía xa, em nhìn thấy một bác lính già chắc cũng đã nghỉ hưu đang đứng thắp hương cho đồng đội mình. Đến gần một chút, em nghe thấy bác đang đọc bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. khi đó, em rất ngạc nhiên nên đã chạy đến gần và xin phép được hỏi chuyện bác. Qua câu chuyên, em biết được bác là một trong những người lính lái xe được nói tới trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.
Ví dụ 2:
Mẹ là người quan tâm nhất đến tôi và cũng là người tôi yêu thương nhất, mang ơn nhất trên đời, mẹ tôi có khuôn mặt đẹp, có làn da trắng, có khuôn mặt tròn, phúc hậu, đôi mắt long lanh và những nếp nhăn của cái tuổi 40, đôi môi trìu mến. Qua nụ cười ngọt ngào, qua tất cả những gì mẹ đã đối xử với tôi rất tốt, bỗng tôi đi học về thấy mẹ đọc nhật kí của tôi tức lắm giành ngay quyển sách từ tay mẹ và hét to sao mẹ quá đáng thế, đây là bí mật của con mà.
Trên đây là đoạn văn nêu cảm nghĩ về mẹ của một học sinh lớp 7. Đoạn văn mắc rất nhiều lỗi.Thứ nhất , đoạn văn là lỗi về sử dụng dấu câu không hợp lí đây là nguyên nhân dẫn dến sự lủng củng của đoạn văn. Ở đây, người viết muốn miêu tả ngoại hình của mẹ mình để qua đó bộc lộ cảm xúc đối với mẹ nhưng em đã không đã không diễn đạt theo trình tự lô-gic các ý mà đã “nhảy cóc” từ miêu tả khuôn mặt sang sang miêu tả tính tình rồi lại chuyển sang kể về việc mẹ đọc “trộm” nhật kí của mình và chuyện trách mẹ. Như vậy, đoạn văn không có sự liên kết về nội dung và hình thức. Về nội dung, chưa thống nhất về chủ đề, chưa lô-gic giữa các câu trong đoạn. Về hình thức, chưa sử dụng các biện pháp để liên kết câu. Bên cạnh đó, em còn viết câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần câu Bỗng tôi đi học về thấy mẹ đọc nhật kí của tôi tức lắm giành ngay quyển sách từ tay mẹ và hét to sao mẹ quá đáng thế, đây là bí mật của con mà. Trong câu trên, người viết muốn diễn đạt là khi đi học về thấy mẹ đọc nhật kí của mình thì tức lắm nhưng nếu trình bày như trên, thì người đọc lại tưởng mẹ đọc nhật kí và tức nhân vật “tôi”. Để trình bày thành đoạn văn hoàn chỉnh, ta cần thống nhất về nội dung của đoạn, xác định đoạn văn nói về nội dung gì ? Còn về hình thức, phải thêm các dấu câu cho thích hợp, sử dụng các biện pháp liên kết câu cho phù hợp, thêm hoặc bớt một số từ ngữ thích hợp tạo sự liên kết. Riêng những câu văn kể về việc mẹ xem nhật kí phải chuyển sang một đoạn khác.
Đoạn văn hoàn chỉnh:
Mẹ là người quan tâm nhất đến tôi và cũng là người tôi yêu thương và mang ơn nhất trên đời. Mẹ tôi có khuôn mặt đẹp, có làn da trắng, có khuôn mặt tròn phúc hậu, có đôi mắt long lanh, có đôi môi trìu mến. Trên khuôn mặt phúc hậu ấy đã có những nếp nhăn của cái tuổi 40. Qua nụ cười dịu hiền, qua tất cả những gì mẹ đã đã làm cho tôi, tôi càng thêm yêu quí mẹ hơn.
… Bỗng một hôm, tôi đi học về thấy mẹ đang đọc nhật kí của tôi. Tôi tức lắm liền giật ngay quyển nhật kí từ tay mẹ và hét to: - Xin mẹ đừng đọc của con, đây là bí mật của con mà….
Trên đây là một số lỗi diễn đạt mà học sinh thường mắc phải trong bài viết của mình. Bản thân tôi đã rất chú ý và cũng đã hướng dẫn các em cách khắc phục có hiệu quả nhất.
3. Biện pháp thực hiện:
Từ việc phát hiện những lỗi diễn đạt của học sinh, tìm ra các nguyên nhân của các lỗi đó để rồi chúng tôi đã tìm ra một số các giải pháp giúp các em khắc phục như:
- Giúp học sinh có ý thức thường trực về diễn đạt. Không chỉ hướng dẫn cho học sinh viết đúng, nói đúng mà còn viết hay nói lưu loát.
- Hướng dẫn học sinh nắm rõ nghĩa của từ bằng cách yêu cầu các em tra từ điển ngay các từ chưa hiểu nghĩa hay còn mập mờ về nghĩa. Tra từ điển thường xuyên để hiểu thêm nghĩa của các từ khác.
- Chấm, gạch chân những lỗi dùng từ, đặt câu, viết đoạn, học sinh tự sửa sau đó kiểm tra lại. Cho phép học sinh hỏi, trao đổi các lỗi diễn đạt trong bất kì giờ học nào.
- Luyện cách dùng từ, đặt câu, viết đoạn cho học sinh trong các giờ học phụ đạo (đa số các em theo học các lớp phụ đạo là những học sinh bị mắc nhiều lỗi chính tả và diễn đạt).
- Giao bài tập tìm từ, đặt câu, viết đoạn cho học sinh làm ở nhà, sau đó giáo viên kiểm tra.
- Hướng dẫn cụ thể cho các em nắm chắc cách sửa ở từng trường hợp mắc lỗi.
- Đối với lỗi lặp từ ở câu hoặc đoạn thì phải bỏ bớt các từ lặp không cần thiết.
- Đối với lỗi lẫn lộn các từ gần âm phải xác định rõ nghĩa của từ thông qua việc tra từ điển.
- Còn đối với lỗi viết câu thiếu các thành phần chính thì phải nắm lại nội dung kiến thức các thành phần chính của câu. Ghi nhớ khi đặt câu luôn phải xác định rõ các thành phần của câu.
- Với câu thiếu chủ ngữ:
+ Thêm chủ ngữ vào câu
+ Biến vị ngữ thành một cụm chủ vị
+ Biến một thành phần nào đó trong câu (thường là trạng ngữ) thành chủ ngữ của câu.
- Với câu thiếu vị ngữ
+ Thêm vị ngữ vào câu. + Biến cụm từ đã cho thành một cụm chủ vị.
+ Biến cụm từ đã cho thành một bộ phận của vị ngữ.
- Với câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ:
+ Thêm cả chủ ngữ và vị ngữ vào trong câu.
- Câu sai về quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành phần câu
Xắp xếp lại vị trí của các từ ngữ cho hợp lí nhằm tạo sự lô - gic giữa các thành phần câu.
- Với những câu mắc lỗi về sử dụng quan hệ từ:
+ Nếu thừa quan hệ từ, ta phải bỏ bớt
+ Nếu thiếu thì thêm vào.
+ Lưu ý, khi sử dụng quan hệ từ phải xác định quan hệ từ dùng trong câu để nối các từ ngữ. và phải xác định chức năng của quan hệ từ trong câu biểu thị mối quan hệ gì.
Với những trường hợp sử dụng dấu câu không hợp lí, cần hướng dẫn các em nắm chắc qui tắc sử dụng dấu câu. Dấu phẩy dùng để đánh dấu ranh giới giữa các bộ phận nòng cốt với bộ phận ngoài nòng cốt. còn dấu chấm dùng ở cuối câu trần thuật.
Với lỗi về đặt câu: Cần lưu ý, nếu là câu đơn bình thường phải biểu thị một ý hoàn chỉnh.
- Những câu mắc lỗi về lô-gic
Phải nắm vững quy tắc sử dụng ngôn ngữ và không ngừng rèn luyện tư duy. Đối với học sinh lớp 8 và lớp 9, hướng dẫn các em vận dụng kiến thức về cấp độ khái quát của nghĩa từ ngữ và kiến thức về trường từ vựng để sửa lỗi.
Còn những trường hợp mắc lỗi về viết đoạn phải hướng dẫn các em nắm chắc qui tắc viết đoạn văn. Đoạn văn đúng quy tắc phải tập chung diễn đạt một nội dung, có câu chủ đề, có thể trình bày theo một trong các cách như diễn dịch, qui nạp hoặc song hành. Với học sinh lớp 8, 9 cần hướng dẫn các em nắm chắc kĩ năng xây dựng đoạn.
4. Thời gian thực hiện
Công việc không chỉ được thực hiện ngay trong tiết học về sửa lỗi mà thực hiện ở hầu hết các tiết học đặc biệt là trong các giờ trả bài Tập làm văn và trong các phần luyện tập.
III. PHÂN CÔNG THỰC HIỆN
1.Phân công triển khai lí thuyết
|
Lớp 6 |
Lớp 7 |
Lớp 8 |
Lớp 9 |
Tổng hợp ( qua mail) |
Báo cáo |
|
|
|
|
|
|
|
3.Phân công triển khai các tiết minh họa mẫu:
|
Lớp 6 |
Lớp 7 |
Lớp 8 |
Lớp 9 |
|
|
|
|
|
Các giáo viên được phân công sẽ triển khai các tiết dạy minh họa (mỗi giáo viên 1 tiết) ở học kì I và tiếp tục triển khai thực hành ở cả 2 học kì trong tất cả các tiết dạy trên lớp.
IV. RÚT KINH NGHIỆM:
Sau mỗi tiết dạy mẫu, hoặc dự giờ, thăm lớp, các giáo viên trong tổ sẽ góp ý, đánh giá hiệu quả của việc vận dụng chuyên đề của tổ nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục những hạn chế để nhằm đem lại hiệu quả giảng dạy cao nhất trong các bài dạy môn Ngữ Văn.
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
- Chuyên đề của tổ sẽ được áp dụng triển khai ở tất cả các tiết dạy trên lớp.
- Học sinh sẽ phát huy tính tích cực, chủ động của mình để tiếp thu nguồn tri thức một cách tối ưu nhất. Các em đã dần hứng thú học bộ môn Ngữ Văn hơn.
Như vậy, một trong những hoạt động quan trọng để thành công trong một tiết học là xây dựng môi trường thân thiện, học sinh tích cực, phát huy tính sáng tạo của học sinh để phát huy được sự tích cực, sáng tạo của học sinh, chắc chắn hướng dẫn học sinh THCS khắc phục lỗi diễn đạt trong văn bản viết sẽ là phương pháp đem lại hiệu quả thiết thực nhằm nâng cao chất lượng bộ môn Ngữ Văn.
Nguyễn Thị Lê @ 11:16 21/09/2017
Số lượt xem: 100
Các ý kiến mới nhất